Chơn Tịnh Khắc Văn
Hòa thượng Chơn
Tịnh1 dạy chúng:
Hòa thượng Chơn
Tịnh6 dạy chúng, nêu ra công án:
Tam Thánh7 hỏi
Tuyết Phong:
- Cá
nhảy khỏi lưới8 lấy gì ăn?
Tuyết Phong
đáp:
- Đợi
ông ra khỏi lưới tôi sẽ nói cho ông nghe.
Tam Thánh nói:
- Giả
sử 1.500 thiện tri thức nói như thế, ông cũng chẳng biết. Hay tuyệt! Hay tuyệt!
Vui tuyệt! Vui tuyệt! Như được diều thì không cần đến cò.
Bảo Ninh9 tôi
không nói như thế, chỉ cần cầm gậy đánh đuổi ra khỏi sơn môn. Lại nói “Vui
tuyệt! Vui tuyệt! Như một con cọp, chớ động đến!”.
Các thiền đức,
thử nói cái vui của Bảo Ninh tôi sánh với cái vui của Tam Thánh thế nào? Hãy
bước ra nói xem?
Giây lâu, sư hét
một tiếng, nói:
- Giả
sử có khám xét cũng không khám xét được.
Hòa thượng Chơn
Tịnh dạy chúng, nêu công án:
Tam Thánh nói:
“Nếu có người đến thì ta tiếp mà không chỉ dạy”.
Hưng Hóa10 nói:
“Nếu có người đến, ta không tiếp mà lại chỉ dạy”.
Xem hai lão
thiền sư này cơ phong bén nhọn, trộm được chút ít kế sống của Lâm Tế, mỗi vị tự
phong cương giới, khí thế xông thẳng vũ trụ, khiến cho thiền tăng sáng mắt buồn
cười.
Các thiền sư,
hãy nói buồn cười ông ấy cái gì? Có biết nguyên do trong đó chăng? Nếu biết,
mặt tình cho ông khuynh đảo tự tại, nếu chẳng biết, chỉ nhai lại cặn bã11 của
Tam Thánh và Hưng Hóa mà thôi.
Hòa thượng Chơn
Tịnh dạy chúng:
Phật pháp không
tùy thuận tình người, trưởng lão các nơi mở miệng nói: “Ta hiểu thiền, hiểu
đạo”. Các ông hãy nói xem, họ đã hiểu chăng? Vô cớ ngồi trong hầm phân, lừa
thần dọa quỷ. Người như thế, đánh chết ngàn người, muôn người cho chó ăn có lỗi
gì?
Lại có một số
người tham thiền bị họ làm mê hoặc chỉ trố mắt nhìn mà có hay biết gì đâu, dù
bị dội phân lên đầu cũng không biết sợ.
Đại chúng, ai
cũng là đại trượng phu cớ sao lại chịu như thế? Vậy phải làm thế nào?
Hòa thượng Chơn
Tịnh dạy chúng:
Trời đất và ta
đồng một nguồn, muôn vật cùng ta đồng một thể, bàn chân ngang ba, dài bốn, Bắc
Cu-lô-châu bốc lửa đốt cháy lông mày trời Đế-thích, Long vương ở biển Đông chịu
đau không nổi. Một tiếng sấm nổ chấn động ao hồ núi sông. Ở ngã tư đường12 có
một thổ phỉ đang say, tỉnh dậy, vỗ tay cười to ha hả, nói: “Gần đây trong thành
Quân Vân không có giặc”. Rồi cầm cây gậy giơ lên nói: “Giặc! Giặc!”
Hòa thượng Chơn
Tịnh dạy chúng, nêu ra công án:
Tuyết Phong
nói: “Núi Nam có con rắn lớn13, các ông tới lui phải đề phòng”.
Tuyết Phong không có tướng bậc đại nhân nên con rắn không đầu chẳng chịu đi.
Trường Khánh Đại An như cô dâu mới sợ cha chồng. Lại nói: “Hôm nay trong pháp
đường có người tán thân mất mạng”. Vân Môn Văn Yển chống gậy đến trước mặt
Tuyết Phong giả bộ sợ. Đó là vẽ rắn thêm chân rồi.
Huyền Sa Sư Bị
nói: “Dùng con rắn lớn núi Nam làm gì?”. Nói kiến giải của mình phù hợp với
thiền pháp mà không thoát khỏi sự cột trói trong hang ổ, lại không ai có khí
khái cả. Môn hạ của Bảo Ninh chẳng lẽ không có ai có khí khái sao? Tôi không
dám mong các ông lập bày tông chỉ, để nêu cao tông phong, chỉ cần chút ít tro
kiến trần tục cũng khó lắm rồi.
Hòa thượng Chơn
Tịnh dạy chúng, giơ cây gậy lên nói:
Niết-bàn tâm
thì dễ hiểu, còn sai biệt trí thật khó biết. Người xưa14 nói:
“Ông có cây gậy, ta cho ông cây gậy. Ông không có cây gậy, ta cướp cây gậy của
ông”.
Qui Tông15 không
nói như thế: “Ông có cây gậy, ta cướp cây gậy của ông. Ông không có cây gậy, ta
cho ông cây gậy”.
Đại chúng, Ba
Tiêu nói như thế, còn Qui Tông thì không nói như thế. Hãy nói, ai đúng?
Khắc Văn ném
cây gậy xuống, nói:
- Là
cái gì?
Giây lâu lại
nói:
- Nếu
đúng, thì Long Nữ chóng thành Phật16, nếu chẳng đúng, thì Thiện Tinh
rơi vào địa ngục17.
Hòa thượng Chơn
Tịnh dạy chúng:
Ngày nay lại đã qua rồi,
Mạng căn huyết mạch lần hồi khô khao.
Dường như cá cạn ở ao,
Khổ thêm thì có, lại nào vui đâu.
Thị nhật dĩ
quá,
Mạng diệc tùy
giảm.
Như thiểu thủy
ngư,
Tư hữu hà lạc.
Chỉ có thiền
định của Nhị thừa18 lấy tịch diệt làm vui. Bồ Tát học trí huệ
Bát nhã lấy pháp hỷ và thiền duyệt19 làm vui. Chư Phật trong ba
đời có đủ từ bi hỷ xả20 - tứ vô lượng tâm – lấy đó làm vui. Đó
là cái vui chân chánh.
Thạch Sương Phổ
Hội21 nói:
Dừng đi! Nghỉ
đi! Lặng đi!22 Đó là cái vui tịch diệt của hàng Nhị thừa. Vân
Môn Văn Yển nói: “Tất cả trí huệ thông suốt vô ngại”. Lại đưa cây quạt lên,
nói: “Ông già Thích-ca đến rồi!”. Đó là cái vui pháp hỷ, thiền duyệt. Đức Sơn
đánh, Lâm Tế hét. Đó là cái vui từ bi hỷ xả của chư Phật ba đời.
Ngoài ba cái
vui này ra, những cái vui khác không phải là vui. Các ông hãy nói xem, tăng
chúng thuộc môn hạ của Qui Tông23 tôi ở trong hay ở ngoài ba
cái vui này?.
Giây lâu lại
nói:
- Hôm
nay trang chủ thiết trai phạn và bố thí tiền vật. Đại chúng hãy lui vào tăng
đường uống trà24.
Rồi hét một
tiếng.
Giải hạ, Hòa
thượng Chơn Tịnh dạy chúng:
- Có
ai thưa hỏi không?
Sư bèn lấy phất
tử gõ giường thiền nói: “Tạo hóa trời đất đều có âm dương, có sanh có diệt. Mặt
trời, mặt trăng chiếu soi muôn vật cũng có sáng tối, có ẩn hiện. Sông ngòi trôi
chảy cũng có chỗ cao chỗ thấp, chỗ thông chỗ nghẹt. Một ông vua sáng suốt trị
dân cũng phải có quân thần, có lễ nhạc, có thưởng phạt. Phật pháp xuất hiện ở
đời cũng có đốn ngộ có tiệm tu, có quyền thật (có phương tiện, có cứu cánh), có
kiết hạ giải hạ. Kiết hạ là ngày 14 tháng 4. Mười phương thế giới không luận
thánh phàm, cỏ cây cũng lại như thế”.
Sư dùng phất tử
gõ bên trái một cái, nói: “Từ chỗ này đồng thời kiết hạ”.
Sư lại đưa phất
lên, nói: “Tất cả đều ở trên đầu phất tử, thấy không?”.
Sư hét một
tiếng, nói: “Giải hạ là ngày 15 tháng 7”.
Sư dùng phất tử
gõ bên phải, nói: “Từ chỗ này đồng thời giải hạ”.
Sư lại đưa phất
tử lên, nói: “Tất cả đều ở trên đầu phất tử, thấy không?”.
Sư hét một
tiếng, nói: “Chư Đại Đức, trong ba tiếng hét này, tiếng thứ nhất là bảo kiếm
kim cang vương25, tiếng thứ hai là sư tử ngồi xổm26,
tiếng thứ ba là gậy trúc dò cỏ27. Nếu các vị hiểu được mới thể hội
thiền pháp của Lâm Tế - Hoàng Bá bị đánh, Đại Ngu ăn hèo, siêu xuất thường
tình.
Tuy xa cách
hai, ba trăm năm, nhưng vẫn chấp nhận cho ông làm đích tử của ngài và mở bày
pháp môn bất nhị, quyền hành đạo pháp chư Tổ, dẹp trừ tà ma, tuyên dương chánh
pháp, chống đỡ tông môn, dựng lập giáo pháp, chỉnh đốn kỷ cương. Nếu người có
đại tri kiến, có con mắt sáng suốt thì phải quyết chí chiến thắng ma quân, bất
động trước mọi cảnh.
Sư hét một
tiếng, nói: “Phải biết có một tiếng hét mà không có cái dụng của tiếng hét28”.
Đến chỗ này phải có con mắt kim cang mới phân biết nổi. Xoay lại không có cục
phân để cầm. Chư Đại đức! Hãy nói cầm cái gì?
Im lặng giây
lâu, rồi hét một tiếng.
1. Chơn Tịnh Khắc Văn đệ tử Huệ Nam Hoàng Long, đạo tràng hoằng
pháp tại Bảo Phong Long Hưng gọi là Bảo Phong Khắc Văn.
2. Tri thức hư vọng.
3. Một trong ba ấn của Tông môn (ấn không, ấn thuỷ, ấn nê), vốn
chỉ màu sắc in trên bùn, chỗ hoàn chỉnh hiển hiện ra, dụ chỉ bản thể bình đẳng
nhất như mà hiện ra tướng sai biệt.
4. Bản lai diện mục của chúng sanh.
5. Kiếm bén chỉ chém dứt tình chấp tội nhân - người chưa giác
ngộ - người giác ngộ không bị kiếm chém.
6. Thiền sư Chơn Tịnh Khắc Văn.
7. Tam Thánh Huệ Nhiên nối pháp Lâm Tế Nghĩa Huyền, đời thứ 5
dưới ngài Nam Nhạc.
8. Dụ cho thoát khỏi sự trói buộc mà được cảnh giới giải thoát.
9. Khắc Văn từng trụ trì chùa Bảo Ninh ở Kim Lăng - Chơn Tịnh
Khắc Văn.
10. Hưng Hoá Tồn Tương nối pháp Lâm Tế Nghĩa Huyền, đời thứ 5
dưới ngài Nam Nhạc.
11. Chỉ cơ phong ngôn ngữ của người khác, nếu chấp vào đó thì như bị
dây leo quấn buộc khó được giải thoát.
12. Nơi nhiều người ồn náo. Dụ cho trần thế. Thiền tông chẳng lìa thế
gian mà giác ngộ, phải ngay trần tục mà giác ngộ.
13. Ví dụ cơ phong bức bách người học của thiền sư, hoặc ví dụ cơ
ngữ nghiệt ngã nghiêm khắc.
14. Chỉ cho Ba Tiêu Huệ Thanh, là thiền tăng hệ Nam Tháp tông
Qui Ngưỡng, đệ tử Nam Tháp Quang Dũng, nối pháp Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, đời thứ 6
dưới ngài Nam Nhạc.
15. Khắc Văn tự xưng. Khắc Văn từng trụ trì chùa Qui Tông Lô
Sơn. Đoạn pháp ngữ này lúc ngài trụ trì tại Qui Tông.
16. Vốn là kinh Pháp Hoa. Long Nữ là con gái Bà-kiệt-la Long Vương.
Lúc 8 tuổi nghe Bồ-tát Văn Thù nói kinh Pháp Hoa mà liễu đạt các pháp, sau đó
dâng bảo châu cho Phật, biến thành thân nam, tức khắc thành Phật. Xem (phẩm
Đề-ba Đạt-đa). Thiền tông cho rằng đốn ngộ liền thành Phật.
17. Còn gọi là Thiện Túc. Thiện Tinh sau khi xuất gia tu chứng Tứ
Thiền. Sau đó, vì thân cận bạn ác, khởi tà kiến mà đọa vào địa ngục, được gọi
là "Xiển-đề Tỳ-kheo", tức Tỳ-kheo không thể thành Phật. Thiền tông
dẫn chuyện này để nói rằng khi mê là chúng sanh.
18. Thanh-văn và Duyên-giác. Hai thừa này lấy tịch diệt là cảnh giới
tối cao.
19. Pháp hỷ là tu tập Phật pháp mà được niềm vui; thiền duyệt là do
nhập định hoặc tham thiền được niềm vui.
20. Nói những điều làm cho chúng sanh vui, đó là từ, dẹp trừ khổ
não cho chúng sanh đó là bi, thấy người khác vui mình vui đó là hỷ, tâm không
chấp giữ đó là xả.
21. Tức Thạch Sương Khách Chư, nối pháp Đạo Ngô Vân Trí đời thứ
4 dưới ngài Thanh Nguyên.
22. Đây là ba thứ trong pháp môn thiền định của Thạch Sương.
- Thôi
đi. Đình chỉ tất cả động tác hành vi.
- Dừng
đi. Bặt tất cả vọng niệm.
- Lặng
đi. Lặng tất cả nghĩ tưởng mê ngộ phàm thánh.
- Một
niệm muôn năm đi. Bảo trì một niệm như như bất động.
- Tro
lạnh cây khô đi. Không còn bất cứ tình thức nào.
- Miếu
cổ lò hương đi. Khử trừ chấp trước như sạch hết tro hương trong miếu cổ.
- Một
sợi lụa trắng đi. Trong quá trình đốn ngộ Phật pháp, đối với thiên chánh
tân chủ đều phân biệt rõ ràng, như một tấm lụa trắng trong sạch.
23. Chơn Tịnh Khắc Văn từng trụ những nơi như: Kim Lăng Bảo
Ninh, Lô Sơn Qui Tông và Bảo Phong...Đoạn pháp ngữ này ngài giảng ở chùa Qui
Tông, cho nên lấy tên chùa mà gọi.
24. Vốn là một phương thức tiếp dẫn của Triệu Châu Tùng Thẩm,
còn gọi là Triệu Châu uống trà. Nghĩa là muốn cho người học tiêu trừ tình kiến
chấp trước.
25. Dụ tiếng hét thứ nhất của Lâm Tế. Tiếng hét này có thể tức khắc
chặt đứt tất cả chấp trước phiền não của chúng sanh.
26. Dụ tiếng hét thứ hai của Lâm Tế. Tiếng hét này như sư tử rống, làm
chấn tỉnh chúng sanh ngu tối.
27. Dụ tiếng hét thứ ba của Lâm Tế. Tiếng hét này như gậy trúc
dò cỏ, xem có rắn hay không, dò xét căn cơ sâu cạn của người học
28. Dụ tiếng hét thứ tư của Lâm Tế. Tiếng hét này không có ý nghĩa
xác định.
CỔ SƠN THẦN YẾN
Cổ Sơn1 dạy
chúng:
Các Hòa thượng
đều nói: “Đến các nơi tham thiền học đạo”. Chẳng hay tham cái gì? Học cái gì?
Có ai tham được chăng? Nếu có, ra trước chúng nghiệm chứng xem?
Các Hòa thượng,
tham thiền hay tham đạo? Tham Phật hay tham pháp thân Phật? Tham Phật pháp vi
diệu hay tham việc sau khi Niết-bàn?
Nếu tham được
câu này thật là lầm to. Có thể nói rằng: “Tâm hướng thượng chẳng dừng”. Những
việc ấy không quan hệ2 với các Hòa thượng.
Khi ấy có vị
tăng hỏi:
- Thế
nào là đại ý Phật pháp?
Cổ Sơn đáp:
- Mửa
ra đi.
Lại hỏi
- Hễ
có ngôn ngữ là xúc phạm tông phong, chẳng hay thế nào là tông phong Thiền tông?
Đáp:
- Ngậm
miệng lại!
Quốc sư Thần
Yến ban đầu tham học với Tuyết Phong. Vừa vào cửa Tuyết Phong nắm chặt hỏi: “Là
cái gì?”. Thần Yến bỗng dưng khế ngộ, đưa tay vẫy.
Tuyết Phong
hỏi:
- Ông
làm đạo lý gì vậy?
Thần Yến thưa:
- Đâu
có đạo lý gì?
Tuyết Phong vỗ
Thần Yến mà ấn khả.
Hòa thượng Cổ
Sơn dạy chúng:
Việc lớn chưa
sáng thì không thể thông được Thiền tông. Rất kỵ ghi nhớ ngôn cú, sống bằng ý
thức. Đâu chẳng nghe nói: “Ý là giặc, thức là sóng”, đều bị chúng nhận chìm
không được tự do tự tại.
Các Hòa thượng,
nếu việc lớn chưa sáng, chi bằng thôi nghỉ, dừng lại để tâm thanh tịnh, không
nên chấp trước vào sự vật, như thế chơn tâm mới hiển lộ. Bất đắc dĩ ta mới nói
như vậy. Người xưa nói: “Ngựa chết làm cho sống lại”. Nếu người đã sáng, ta nói
như thế cũng như nói mớ mà thôi.
Còn các ông thì
sao? Mười hai phần giáo có dùng được câu nào chăng? Nếu dùng được, huynh đệ
thuộc phần nào? Cho nên nói: “Mười hai phần giáo nói không được, phàm thánh
nhiếp trì cũng không được, xưa nay thông qua cũng không được, ngôn ngữ bao hàm
chẳng xong”.
Bởi vì các ông
cứ vùi đầu vào kinh giáo cho nên ta mới tạm phân khai. Nếu kẻ nào chưa sáng mà
nói như thế, thì hãy vả vào miệng họ.
Huynh đệ, phải
phân biệt được tốt xấu rõ ràng. Có người nào phân biệt được rõ ràng, bước ra
trước chúng khám nghiệm xem?
Trời lạnh,
phiền các vị đứng lâu!
1.Cổ Sơn Thần Yến nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn, đời thứ 6 dưới
ngài Thanh Nguyên.
2. Không quan hệ gì với thiền pháp.

0 nhận xét Blogger 0 Facebook
Đăng nhận xét